Nghiên cứu-Bình luận

Nhà nước kiến tạo phát triển: mô hình và triển vọng

Bài viết phân tích các vấn đề cơ bản liên quan đến mô hình nhà nước kiến tạo phát triển, bao gồm khái niệm, nguồn gốc, đặc điểm, tính chất, lịch sử hình thành, các dạng thức và xu hướng phát triển của nó.


 

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

1. Khái niệm, nguồn gốc và đặc điểm của “nhà nước kiến tạo phát triển”

 Ở Việt Nam, trong mấy năm gần đây thuật ngữ “nhà nước kiến tạo phát triển” được sử dụng khá phổ biến, cả trên các diễn đàn học thuật và trong các hoạt động của Nhà nước. Về mặt ngữ pháp, “nhà nước kiến tạo phát triển” không có từ gốc hoàn toàn, mà nó được sử dụng để chuyển dịch ý nghĩa của từ “developmental state” - được giới học thuật quốc tế sử dụng một cách phổ biến trong mấy thập kỷ gần đây để chỉ một mô hình phát triển nhà nước mang đặc thù của một số quốc gia Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc...).

Nếu tách rời bối cảnh thì “developmental state” chỉ là “nhà nước phát triển” (không có từ “kiến tạo”) - một thuật ngữ không rõ nội hàm và có thể bị hiểu nhầm với một thuật ngữ khác thường được dùng trong chính trị quốc tế, đó là “developed countries” (các quốc gia phát triển). Tuy nhiên, khi đặt trong bối cảnh mô hình phát triển của các quốc gia Đông Á trong những thập kỷ sau của thế kỷ 20 - mà đặc trưng cơ bản là nhà nước đóng vai trò lãnh đạo, định hướng sự phát triển kinh tế của đất nước - thì việc chuyển ngữ “developmental state” thành “nhà nước kiến tạo phát triển” như ở Việt Nam là hợp lý và cần thiết.

Trong thực tế, quan điểm về vai trò can thiệp và định hướng phát triển kinh tế của nhà nước đã hình thành từ cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, gắn liền với các lý thuyết về chủ nghĩa trọng thương, chủ nghĩa tiền tệ và an ninh quốc gia[1]. Tuy nhiên, giới học thuật quốc tế có sự thống nhất cao khi thừa nhận “developmental state” là thuật ngữ lần đầu tiên được nêu ra bởi Chalmers Johnson, trong cuốn “MITI [2] và Sự thần kỳ Nhật Bản: Chính sách tăng trưởng công nghiệp giai đoạn 1925-1975” (MITI and the Japanese Miracle: The Growth of Industrial Policy 1925-1975), xuất bản năm 1982[3]. Trong cuốn sách này, Chalmers Johnson đã phân tích những yếu tố dẫn đến “sự thần kỳ Nhật Bản” - mà đặc biệt thể hiện trong quá trình khôi phục, phát triển kinh tế rất thành công của nước này từ đống tro tàn sau Chiến tranh thế giới thứ Hai. Ông đã sử dụng thuật ngữ “developmental state” để chỉ mô hình phát triển mà Nhà nước Nhật Bản đã áp dụng trong giai đoạn đó (và xa hơn nữa là từ thời kỳ Minh trị). “Developmental state” sau đó đã trở thành một thuật ngữ phổ biến trong giới nghiên cứu khi phân tích chính sách kinh tế của các quốc gia trên thế giới trong thời kỳ hiện đại. Nó cũng được sử dụng trong nhiều báo cáo, văn kiện của các cơ quan Liên hiệp quốc (đặc biệt là UNDP) và nhiều tổ chức quốc tế khác.

Theo quan điểm của Chalmers Johnson, “developmental state” là “…cách viết tắt của một mạng lưới liền mạch về chính trị, quan chức, và uy thế của tiền bạc giúp tạo nên đời sống kinh tế ở các nền tư bản Đông Bắc Á”[4]. Ông thừa nhận rằng, “một trong những mục đích chính trong việc mở đầu ý tưởng về nhà nước kiến tạo phát triển tư bản… là để vượt qua sự tương phản giữa nền kinh tế Hoa Kỳ [điển hình của mô hình kinh tế tư bản thị trường tự do] và Liên bang Xô viết [điển hình của mô hình kinh tế kế hoạch tập trung]”[5].

Như vậy, có thể rút ra kết luận là thuật ngữ “nhà nước kiến tạo phát triển’ đầu tiên được Chalmers Johnson dùng để chỉ một mô hình phát triển nằm giữa hệ thống kinh tế tư bản thị trường tự do (free market capitalist economic system) và hệ thống kinh tế kế hoạch tập trung (centrally planned economic system). Mô hình phát triển ‘trung dung” này được Woo-Cumings gọi là “hệ thống tư bản kế hoạch có chừng mực” (a plan-rational capitalist system), với đặc trưng là “kết hợp sở hữu tư nhân với sự chỉ đạo của nhà nước”[6].

Từ thuật ngữ khởi đầu của Chalmers Johnson, có nhiều tác giả khác nêu ra định nghĩa về “developmental state”. Ví dụ, về mặt tổ chức, trong một báo cáo vào năm 2012, UNDP cho rằng: “nhà nước kiến tạo phát triển, theo nghĩa giản dị, đó là một nhà nước đóng vai trò mạnh mẽ trong nền kinh tế quốc gia với mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế”[7]. Trong một báo cáo khác, Hội đồng Kinh tế cho châu Phi của Liên hiệp quốc (UN Economic Commission for Africa - UN ECA) và Liên minh châu Phi (African Union - AU) xác định, nhà nước kiến tạo phát triển là một nhà nước mà “đặt sự phát triển kinh tế là mục tiêu cao nhất trong chính sách của mình và có khả năng thiết kế các công cụ để thúc đẩy mục tiêu đó”[8].

Về mặt cá nhân, có quan điểm cho rằng “nhà nước kiến tạo phát triển là một nhà nước có quyền lực và được tổ chức hợp lý để đạt được các mục tiêu phát triển của nó”[9]. Quan điểm khác cho rằng, nhà nước kiến tạo là nhà nước có năng lực thiết kế và thực thi các mục tiêu phát triển của nó theo cách thức áp đặt và chuyên chế nhằm tạo ra sự tăng trưởng kinh tế [10]. Quan điểm thứ ba, nhà nước kiến tạo phát triển hàm ý một “nhà nước cứng rắn” ("hard state”) xét về phương diện can thiệp vào hoạt động kinh tế, thể hiện việc nó không chỉ điều chỉnh, hướng dẫn (regulate, guide), mà còn giám sát và kiểm soát (monitor and control) nền kinh tế[11]. Quan điểm thứ tư xác định, nhà nước kiến tạo phát triển là một nhà nước đặt ưu tiên hàng đầu cho phát triển kinh tế; để đạt mục tiêu đó, nhà nước tích cực can thiệp vào thị trường, thông qua việc định hướng, đặt ra quy tắc, điều phối, phân bổ nguồn lực và sử dụng những công cụ chính sách đa dạng khác[12].

Như vậy, có thể thấy các định nghĩa nêu trên đều tiếp cận nhà nước kiến tạo phát triển từ hai góc độ chính: (i) ý thức hệ/tư tưởng (ideological orientation) hướng tới sự phát triển (lý luận về phát triển, hay phát triển luận - developmentalism)[13] và cấu trúc thể chế (institutional arrangement) về mặt chính trị và hành chính để hiện thực hoá các chính sách phát triển của nó[14]. Theo UNDP, đây cũng chính là hai đặc điểm cơ bản (major features) của nhà nước kiến tạo phát triển, đó là: a) [Có/dựa trên] một tư tưởng về sự phát triển (a developmentalist ideology); và b) [Có/dựa trên] những sắp xếp thể chế với các nguyên tắc và tiêu chuẩn mà có thể hỗ trợ các quá trình phát triển[15]. Có học giả xem đặc trưng thứ nhất như là ‘phần mềm’ (‘software’) còn đặc trưng thứ hai là phần cứng (‘hardware’) của nhà nước kiến tạo phát triển[16].

Nói đến những đặc điểm cụ thể của nhà nước kiến tạo phát triển nói chung, Chalmers Johnson nêu ra các yếu tố sau đây[17]:

- Có các quy tắc quản trị ổn định và vững chắc do giới tinh hoa chính trị - quan liêu thiết lập nên, tạo ra vị thế tương đối tự chủ của nhà nước trước các sức ép chính trị từ xã hội mà có thể gây trở ngại đến việc thực hiện các chính sách kinh tế.

- Có sự hợp tác chặt chẽ giữa khu vực công và tư (nhà nước và doanh nghiệp). Sự hợp tác đó được bảo đảm và giám sát thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách (ví dụ: MITI của Nhật Bản).

- Nhà nước đầu tư mạnh vào giáo dục, y tế và thực hiện các chính sách nhằm bảo đảm công bằng xã hội.

- Có một Chính phủ mạnh, thậm chí chuyên chế, song nắm rõ và vận dụng tốt các quy luật của kinh tế thị trường.

Cũng nói về những đặc trưng của nhà nước kiến tạo phát triển, một học giả khác kế thừa nhưng phát triển một số quan điểm nêu trên của Chalmers Johnson khi nêu ra 6 điểm sau đây[18]:

- Có một tầng lớp quan liêu tinh hoa (giới tinh hoa) gần gũi với nhà nước, tạo thành hạt nhân vững chắc và đoàn kết, hỗ trợ cho nhà nước. Các chính sách phát triển chịu ảnh hưởng của tầng lớp quan liêu ưu tú này.

- Nhà nước có tính tự chủ (độc lập) tương đối trước áp lực của các giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội và đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích của các nhóm này.

- Nhà nước điều phối kinh tế thông qua một số thiết chế tổ chức chuyên biệt. Các thiết chế này có thực quyền và năng lực cao trong việc xây dựng và áp dụng các chính sách phát triển.

- Xã hội yếu, chính quyền mạnh và kiểm soát chặt xã hội ở thời kỳ đầu.

- Nhà nước ít chịu ảnh hưởng bởi các lợi ích kinh tế tư nhân ở thời kỳ đầu. Quyền lực và sự tự chủ của nhà nước được củng cố trước khi giới tư bản trở thành một thế lực có ảnh hưởng.

- Các quyền dân sự bị hạn chế, đặc biệt ở thời kỳ đầu. Nhà nước có tính chuyên chế cao song lại có được tính chính danh và sự ủng hộ của người dân nhờ tạo ra sự tăng trưởng kinh tế và phân phối tương đối công bằng những lợi ích từ sự phát triển (về giáo dục, chăm sóc sức khỏe, cơ sở hạ tầng…).

Theo UNDP, những đặc điểm cụ thể của nhà nước kiến tạo phát triển bao gồm[19]:

 a) Bộ máy quan liêu mạnh, có thẩm quyền, không bị chính trị hoá, được tách biệt và không bị ảnh hưởng bởi các cuộc bầu cử và các áp lực kinh doanh;

b) Giới lãnh đạo mạnh mẽ, có tầm nhìn xa trông rộng, có khả năng (không nhất thiết phải là độc đoán, chuyên chế) và có cam kết lớn;

c) Kế hoạch phát triển quốc gia hiệu quả;

d) Khả năng điều phối các hoạt động kinh tế và các nguồn lực;

e) Hỗ trợ tầng lớp doanh nhân của quốc gia, mà sẽ phát triển thành giai cấp tư sản của quốc gia;

f ) Tập trung vào nâng cao năng lực con người bằng cách đầu tư vào các chính sách xã hội để thúc đẩy giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, nhà ở, và các cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội khác;

g) Có niềm tin và sự tự tin vào việc xây dựng các định chế và tiêu chuẩn như pháp quyền, công lý, ổn định chính trị, và hòa bình để đảm bảo 'sự tin tưởng thị trường' (‘market trust’).

 

Tương tự, Hội đồng Kinh tế cho châu Phi của Liên hiệp quốc (UN Economic Commission for Africa) và Liên minh châu Phi (African Union) xác định, nhà nước kiến tạo phát triển là “một nhà nước mà, ngoài những điều khác, có tầm nhìn và khả năng thực hiện một chủ thuyết phát triển (leadership with a developmentalist ideology), có kế hoạch phát triển quốc gia mạnh (strong national development planning), có tính tự chủ tương đối (relative autonomy) [với các lực lượng trong xã hội], bộ máy hành chính quan liêu mạnh (strong bureaucracy) và có cam kết nâng cao năng lực của con người (commitment to enhancing human capacity), có sự ổn định về chính trị (political stability), tuân thủ nguyên tắc pháp quyền (rule of law) và hoạt động của chính quyền có thể dự báo được (predictability in government)[20].

Từ một góc nhìn khác, theo UNDP, nhà nước kiến tạo phát triển là nhà nước theo đuổi các yếu tố: (i) Chủ nghĩa quốc gia về kinh tế (economic nationalism), (ii) Chú trọng chuyển giao công nghệ nước ngoài (focus on foreign technology transfer); (iii) Nền hành chính quan liêu rộng lớn (large government bureaucracy); (iv) Đề cao chủ nghĩa doanh nghiệp (corporatism - mà đặc trưng là liên minh giữa nhà nước, người lao động và giới tư sản công nghiệp); (v) Nghi ngờ chủ nghĩa tự do mới (neoliberalism) và Đồng thuận Oa-sinh-tơn (‘Washington Consensus’)[21], (vi) Ưu tiên tăng trưởng kinh tế hơn cải cách chính trị; (v) Nhấn mạnh giáo dục kỹ năng (technical education)[22].

2. Bản chất và các dạng thức của nhà nước kiến tạo phát triển

Nhà nước kiến tạo phát triển không phải là một kiểu nhà nước, tuy nhiên, từ góc độ quản trị quốc gia, hoàn toàn có thể coi đó là một mô hình nhà nước, giống như mô hình nhà nước thị trường tự do (hay nhà nước điều tiết), nhà nước kế hoạch hoá tập trung, nhà nước phúc lợi… Trong thực tế, để làm rõ các đặc trưng của nhà nước kiến tạo phát triển, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước thường so sánh với các mô hình nhà nước khác như đã nêu.

Có tác giả lập luận rằng, việc đặt nhà nước kiến tạo phát triển nằm giữa mô hình nhà nước thị trường tự do và mô hình nhà nước kế hoạch hoá tập trung có nghĩa là nó không mang tính chất của cả nhà nước TBCN và nhà nước XHCN[23]. Về mặt lý luận, nhận định đó là chính xác, bởi như đã đề cập, khái niệm nhà nước kiến tạo phát triển chỉ một mô hình quản trị chứ không phải là một kiểu nhà nước, vì thế nó có tính “trung lập’ cả về yếu tố giai cấp và chế độ kinh tế. Trong thực tế, quá trình chuyển đổi hậu XHCN ở một số quốc gia Đông Âu, ví dụ như Ba Lan, cho thấy không cần thiết phải là thiết lập một hệ thống kinh tế theo kiểu chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa xã hội, mà là một hệ thống gồm có thị trường có khả năng phát triển kinh tế - xã hội nhanh và [duy trì] ổn định phúc lợi XHCN[24].

Tuy nhiên, một số học giả khác cho rằng, xét về bản chất, nhà nước kiến tạo phát triển là nhà nước can thiệp (interventionist state). Đây là mô hình đối lập với nhà nước thị trường tự do; trong mô hình này, nhà nước can thiệp vào các hoạt động kinh tế để “sửa chữa” những khiếm khuyết của thị trường và thúc đẩy sự công bằng và phúc lợi của các nhóm xã hội[25]. Sở dĩ nhà nước kiến tạo phát triển mang bản chất của nhà nước can thiệp vì nó: “…là sự biểu hiện của một tiêu chuẩn hoặc khát vọng đạo đức sử dụng quyền lực can thiệp của nhà nước để hướng dẫn đầu tư theo cách thúc đẩy tầm nhìn liên kết nhất định nền kinh tế quốc gia”[26]. Một tác giả khác lý giải, điều này đơn giản là bởi phát triển kinh tế là cốt lõi của một nhà nước kiến tạo phát triển, và yếu tố đó “…đòi hỏi nhà nước cần tạo ra và điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế và chính trị mà có thể hỗ trợ sự công nghiệp hóa liên tục”[27].

Song cần thấy rằng, tính chất can thiệp của nhà nước kiến tạo phát triển được cho là không giống như chức năng kinh tế của các nhà nước XHCN (nhà nước can thiệp toàn diện và đóng vai trò chủ thể chính của nền kinh tế) mà chỉ là để “hỗ trợ quỹ đạo phát triển”[28]. Theo Chalmers Johnson, sự can thiệp này là nhằm để phối kết hợp giữa kinh tế tư nhân và chính quyền, hay giữa khu vực tư và khu vực công[29]. Trong nhà nước kiến tạo phát triển, kinh tế tư nhân là một chủ thể quan trọng, là đối tác cùng với chính quyền trong nỗ lực phát triển[30]. Vì thế, từ một góc độ khác, nhà nước kiến tạo phát triển cũng mang bản chất là nhà nước tư bản[31]. Nhưng như đã đề cập, nhà nước kiến tạo phát triển khác với các nhà nước tư bản theo chủ nghĩa tân tự do, và thực tế mô hình nhà nước này được xem là không thể được tạo nên trong nền kinh tế có bản chất tân tự do. Điều đó được lý giải là bởi khó có thể đạt được các mục tiêu phát triển rộng rãi trong một môi trường [theo mô hình tân tự do] mà chính quyền có quyền lực rất giới hạn trong chỉ dẫn đầu tư, điều chỉnh cường độ và gây ảnh hưởng đến các thiết chế, doanh nghiệp và cộng đồng để họ đi theo một chiến lược phát triển toàn bộ nhất định[32].

 Theo UNDP, không có một hình mẫu chung, điển hình của nhà nước kiến tạo phát triển[33]. Khái niệm nhà nước kiến tạo phát triển là thuật ngữ để phân biệt, so sánh với các dạng nhà nước khác, bao gồm các dạng nhà nước tối thiểu (laissez faire state), nhà nước tự do cổ điển (classical-liberal state), nhà nước tự do mới (neo-liberal state), nhà nước điều tiết (regulatory states); nhà nước phúc lợi (welfare states)[34]. Trong thực tế, các nhà nước kiến tạo phát triển khá khác nhau ở một số phương diện. Chính vì vậy, có sự thống nhất cao trong giới học thuật quốc tế khi chia nhà nước kiến tạo phát triển thành hai dạng (types) chính (ngoài ra còn có những cách chia khác), căn cứ vào mốc thời gian. Dạng thứ nhất là những nhà nước kiến tạo phát triển trong nửa cuối thế kỷ 20, mà đặc trưng là các “con Hổ Đông Á” (East Asian Tigers), và dạng thứ hai là những quốc gia được xem là theo mô hình nhà nước kiến tạo phát triển trong thế kỷ 21, ví dụ như Mauritius, Botswana[35]… Dạng thứ nhất cũng được xem là nhà nước kiến tạo phát triển cổ điển (classical developmentat state) có xu hướng độc tài, chuyên chế (authoritarian developmentat state), trong khi dạng thứ hai là nhà nước kiến tạo mới nổi (emergent developmentat state) có tính chất dân chủ (democratic developmentat state)[36] .

Từ khía cạnh động lực cho phát triển, theo UNDP, trong khi hầu hết các nhà nước kiến tạo phát triển ở Đông Á (ví dụ như Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Thái Lan) và một số nước ở châu lục khác, ví dụ như Brazil, đạt được sự phát triển kinh tế cao nhờ áp dụng các biện pháp như tạo ra sự ổn định kinh tế vĩ mô, công nghiệp hoá hướng tới xuất khẩu, thúc đẩy phúc lợi xã hội, phát triển cơ sở hạ tầng... thì các nước Bắc Âu và Nhật Bản lại sử dụng các công cụ khác[37]. Ví dụ, theo Chalmers Johnson, sự thần kỳ về phát triển kinh tế của Nhật Bản có nguyên nhân chủ yếu từ văn hoá của người Nhật giúp họ cộng tác với nhau trong mọi hoạt động, cũng như trong việc duy trì chất lượng sản phẩm. Chalmers Johnson cho rằng, đóng góp quan trọng nhất từ phương diện văn hoá vào đời sống kinh tế của Nhật Bản là sự đồng thuận giữa Chính phủ, các đảng chính trị, những người lãnh đạo của các ngành công nghiệp, và cả người dân Nhật, về các mục tiêu và cách thức thực hiện các mục tiêu kinh tế của quốc gia[38].

3. Vấn đề dân chủ trong nhà nước kiến tạo phát triển

Mặc dù dân chủ không phải là yếu tố được thảo luận nhiều nhất, nhưng được các cơ quan Liên hiệp quốc đặc biệt chú ý khi bàn về nhà nước kiến tạo phát triển. Câu hỏi chính xoay quanh vấn đề này là: Liệu các nhà nước kiến tạo phát triển có thể bảo đảm các tiêu chí về dân chủ trong bối cảnh nhà nước can thiệp sâu vào hoạt động kinh tế?

 

Mối lo ngại về dân chủ trong nhà nước kiến tạo phát triển là hoàn toàn có cơ sở, khi mà theo Leenders: “Sự tách biệt khỏi những áp lực xã hội là cốt yếu với nhà nước kiến tạo phát triển để cho phép nó thực hiện chức năng dẫn dắt sự phát triển mà không phải chịu bất kỳ sự tác động nào khác”[39]. Về vấn đề này, Wong cũng cho rằng, nhà nước kiến tạo phát triển phải tìm cách cân bằng giữa các mối liên kết chiến lược (strategic linkages) và sự tự chủ tương đối của nó với các lực lượng xã hội khác nhau[40]. Theo UNDP, trong thực tế các nhà nước kiến tạo phát triển Đông Á, sự tự chủ này đạt được thông qua sự áp đặt của nhà nước với xã hội và sự áp chế của nhà nước với các tổ chức xã hội[41].

Nhìn một cách tổng quan, với đặc trưng cứng rắn (“hard state”) của nó, một nhà nước kiến tạo phát triển sẽ khó dung hoà với các quy tắc của một hệ thống dân chủ mà trong đó người dân được hưởng những quyền rộng rãi, bao gồm quyền phản đối và đòi thay đổi chính quyền. Để kiên định đường lối phát triển kinh tế, nhà nước kiến tạo phát triển có thể (và trong thực tế ở Hàn Quốc, Đài Loan và một số quốc gia Đông Á khác trong thế kỷ 20 đã thực hiện cho đến khi các nước này thực hiện dân chủ hoá) phải hạn chế nghiêm ngặt những quyền và khả năng của người dân phản kháng những nỗ lực của nhà nước[42]. Thực tế trong số các nhà nước kiến tạo phát triển cổ điển ở Đông Á, chỉ có Nhật Bản được xem là có thể chế dân chủ. Tuy nhiên, ngay cả Nhật Bản, nếu theo quan điểm của Chalmers Johnson là nhà nước kiến tạo phát triển đã bắt đầu ở nước này từ thời Minh trị, thì cũng có nghĩa là nó đã trải qua một thời kỳ phi dân chủ khá dài[43].

Trong khi hầu hết các học giả không thiện cảm với tính chất độc đoán của nhà nước kiến tạo phát triển cổ điển, thì Chalmers Johnson lại tìm cách biện minh cho nó. Ông thừa nhận nhà nước kiến tạo phát triển [cổ điển] “mang tính chất độc tài, chuyên chế mềm” (“soft authoritarian character”) nhưng xem đó là nguồn gốc cho sự tự chủ của nhà nước trước những áp lực xã hội, và vì vậy sự chuyên chế đó là chính đáng. Chalmers Johnsoncũng cho rằng, nguồn gốc của quyền lực trong nhà nước kiến tạo phát triển không phải là một trong “ba ngôi” (gồm truyền thống, sự sùng bái lãnh tụ, và pháp lý) theo quan điểm của Weber mà mang tính chất của một dạng quyền lực cách mạng - quyền lực được cả một dân tộc phó thác cho để thực hiện chuyển đổi trật tự chính trị, kinh tế, hay xã hội[44]. Nói cách khác, tính hợp pháp của quyền lực trong nhà nước kiến tạo phát triển bắt nguồn từ chính những thành tựu của nhà nước chứ không phải theo cách mà nhà nước đó lên nắm quyền[45].

Quan điểm nêu trên của Chalmers Johnson bị phản biện bởi một số học giả. Theo Edigheji[46], việc “xem tính chất áp bức của nhà nước như là một trong những yếu tố làm tăng năng lực kiến tạo phát triển của nó” là không phù hợp[47]. Thực tế trong những năm gần đây đã cho thấy là một nhà nước độc đoán chỉ chú trọng tăng trưởng đã không đem lại sự phát triển bền vững về lâu dài[48]. Edigheji cũng cho rằng lập luận của Chalmers Johnson thiếu thuyết phục, vì đã giới hạn các quan hệ giữa nhà nước và xã hội vào vấn đề giữa chính quyền và doanh nghiệp (government-business relations), hay nói cách khác là vào “liên minh của giới tinh hoa” (“elite coalition”)[49], trong khi các quan hệ giữa nhà nước và xã hội trong thực tế rộng và phức tạp hơn nhiều. Còn Perry Anderson[50] thì cho rằng, một nhà nước kiến tạo phát triển độc tài không thể tồn tại bền vững, lâu dài, vì nếu không có dân chủ thì nhà nước sẽ không thể tạo ra sự đồng thuận trong xã hội cũng như sự gắn kết trong quốc gia[51].

Để khắc phục nhược điểm về dân chủ của dạng nhà nước kiến tạo phát triển độc tài, chuyên chế (authoritarian developmental state), UNDP và nhiều học giả đề xuất mô hình nhà nước kiến tạo phát triển dân chủ (democractic developmental state) với đặc trưng là nhà nước kết hợp giữa phát triển kinh tế và tăng cường các giá trị dân chủ.

Về nguyên tắc, nhà nước kiến tạo phát triển dân chủ đòi hỏi một hệ thống chính trị có khả năng dung chứa các lợi ích và yêu cầu chính trị đa dạng[52]. Trái ngược với quan điểm cho rằng, phát triển và quản trị dân chủ (democratic governance) là hai yếu tố đối kháng, UNDP cho rằng hai yếu tố này củng cố, bổ sung cho nhau[53]. Quản trị dân chủ cần thiết để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - điều cốt yếu của nhà nước kiến tạo phát triển, thông qua việc: “giải phóng (người dân, nhà nước, xã hội và nền kinh tế) khỏi sự bạo ngược trong nước và sự thống trị của nước ngoài”[54]. Theo đó, khái niệm nhà nước kiến tạo phát triển dân chủ: “…không chỉ mang các thuộc tính thể chế của nhà nước kiến tạo phát triển cổ điển, tức là tính tự chủ và gắn kết, mà còn mang tính chất của nền dân chủ… Nó tạo lập những liên minh rộng rãi với xã hội và đảm bảo sự tham gia của người dân vào quá trình quản trị và chuyển đổi. Cho dù dưới hình thức liên bang hoặc đơn nhất, theo chế độ cộng hoà tổng thống hay cộng hoà đại nghị, nó cũng được định hướng bởi các mục tiêu quản trị như trách nhiệm giải trình, ổn định, đồng thuận, sự tham gia của quần chúng và không ai bị loại trừ khỏi quá trình phát triển[55].

4. Viễn cảnh và những thách thức với việc theo đuổi mô hình nhà nước kiến tạo phát triển

Khái niệm nhà nước kiến tạo phát triển hiện đã được thừa nhận và mang tính phổ biến cả trong các diễn đàn học thuật và chính trị, kinh tế. Với những đặc trưng của nó, không có gì ngạc nhiên khi mô hình này nhận được sự quan tâm của các quốc gia đang phát triển trên thế giới. Nó tạo ra hy vọng cho giới lãnh đạo của các nước đang phát triển về việc bắt kịp “các cường quốc năm châu”, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân và vị thế của đất nước trên trường quốc tế. Nó cũng thể hiện một sự “phá cách” về đường lối phát triển của một quốc gia (điều mà giới tinh hoa chính trị ở nhiều quốc gia dường như luôn hứng thú), theo đó, developmental state được cho là mô hình có thể giúp thoát khỏi đói nghèo, xây dựng đất nước giầu mạnh nhưng không phải đi theo con đường của chủ nghĩa tân tự do kiểu phương Tây. Ở nhiều khu vực của thế giới, sức hấp dẫn mãnh liệt của developmental state đã làm lu mờ các yếu tố của chủ nghĩa tân tự do - mà từ lâu đã được phổ biến và hiện vẫn còn ảnh hưởng lớn ở các nước phương Tây. Thậm chí có khẩu hiệu cho rằng: “no developmental state, no development” (tạm dịch: không thể phát triển nếu không theo mô hình nhà nước kiến tạo phát triển)[56]. Chalmers Johnson cho rằng, đến nay, mô hình nhà nước kiến tạo phát triển đã trở thành “một tiến trình làm thay đổi cán cân quyền lực toàn cầu”[57], còn theo một học giả nổi tiếng khác trên lĩnh vực này thì: "ngày nay,dường như bất kỳ xã hội nào muốn thực hiện chuyển đổi nhanh chóng và thành công từ đói nghèo cũng không tránh khỏi việc áp dụng mô hình nhà nước mà ít nhiều tôn trọng các đặc trưng của  nhà nước kiến tạo phát triển"[58]. Một nhà nghiên cứu khác thì nhận định, mô hình kinh tế tân tự do có nhiều nhược điểm gây cản trở sự phát triển nhanh ở các quốc gia đang phát triển, bởi vậy, “các quyết định chính trị hóa “nền kinh tế” [tức theo đuổi mô hình nhà nước kiến tạo phát triển] không những không thể tránh khỏi, mà còn được mong đợi…”[59]. Đối với các tổ chức quốc tế, theo nhận xét của UN ECA và AU: “Có một sự đồng thuận ngày càng cao là mô hình nhà nước kiến tạo phát triển đã là trung tâm của quá trình tăng trưởng nhanh và chuyển đổi về xã hội ở bất kỳ quốc gia nào”[60]. UNDP cũng cho rằng: “một quốc gia kiến tạo phát triển [theo các tiêu chí của UNDP đề ra] đáp ứng được các đòi hỏi về một nhà nước có năng lực (capable), đáp ứng kịp thời (responsive), không loại trừ chủ thể nào (inclusive) và phát triển con người (human development)[61].

 

 Tuy nhiên, liệu developmental state có phải là con đường duy nhất và khả thi với tất cả các quốc gia trong việc đưa đất nước “cất cánh” bay lên hay không vẫn là câu hỏi chưa có lời giải đáp thống nhất. Một chủ đề liên quan được đem ra tranh luận là nền kinh tế của các nước phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ. Rõ ràng là mặc dù trung thành với chủ nghĩa tân tự do, kinh tế Mỹ vẫn ổn định và tăng trưởng trong những năm gần đây, và vẫn có sức chi phối cả thế giới. Điều đó cho thấy nhà nước kiến tạo phát triển không phải là con đường duy nhất cho con tàu thịnh vượng của các quốc gia. Thêm vào đó, mặc dù mô hình nhà nước kiến tạo phát triển đã đem lại sự giàu có và thành công cho các nước Đông Á vào cuối thế kỷ 20, nhưng bản thân nó cũng đang phải đối mặt với những thách thức ngay tại những quốc gia này. Trên thực tế, có tác giả đã khẳng địnhkỷ nguyên của mô hình nhà nước kiến tạo phát triển đã kết thúc cùng cuộc khủng hoảng tài chính châu Á (năm 1997), mà sau đó buộc các quốc gia kiến tạo phát triển Đông Á phải tiến hành các cải tổ kinh tế theo xu hướng tự do (neoliberalism)[62].

Xét trên toàn thế giới, cũng có một loạt vấn đề đang đặt ra với mô hình nhà nước kiến tạo phát triển. Ví dụ, liệu quá trình toàn cầu hoá, tự do hoá thương mại, công nghệ thông tin,… với đặc trưng chung là mở rộng môi trường kinh doanh và cạnh tranh tự do trong hoạt động kinh tế liệu có thách thức vai trò “chỉ huy” của các nhà nước trong mô hình nhà nước kiến tạo phát triển? Hoặc quá trình dân chủ hoá được đẩy mạnh trên thế giới sau Chiến tranh lạnh và sự phát triển của mạng xã hội liệu có mâu thuẫn với tính chất quan liêu của bộ máy kỹ trị theo kiểu các nhà nước kiến tạo phát triển?..

Trong nỗ lực tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi nêu trên, một số học giả đã tìm cách cải biến khái niệm cốt lõi về sự phát triển trong luận điểm gốc của Chalmers Johnson. Tiêu biểu trong đó có lẽ là Peter Evans[63]. Theo ông, nhà nước kiến tạo phát triển là nhà nước được thiết kế về mặt thể chế để đóng vai trò hỗ trợ sự thay đổi (transformative role) chứ không phải là kiềm chế/kiểm soát xã hội (constraining role)[64]. Một tác giả khác[65] thì đặt câu hỏi về khái niệm phát triển: phải chăng phát triển chỉ là phát triển về kinh tế? Nếu như câu trả lời theo hướng phát triển có nghĩa rộng hơn, thì sẽ cần xem xét lại nhiều vấn đề lý luận về nhà nước kiến tạo phát triển.

Tuy nhiên, đáng chú ý nhất chính là đề xuất thay đổi mô hình nhà nước kiến tạo độc đoán kiểu cũ sang mô hình nhà nước kiến tạo dân chủ của UNDP (đã trình bày ở trên). Có lẽ đó chính là câu trả lời thuyết phục nhất cho câu hỏi về tương lai của nhà nước kiến tạo phát triển, mặc dù có nhiều khía cạnh lý luận, thực tiễn của mô hình nhà nước kiến tạo dân chủ sẽ cần tiếp tục làm rõ hơn./.

PGS.TS. Vũ Công Giao - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

--------------------------------------

Tài liệu tham khảo

1. Adrian Leftwich, ‘Bringing Politics Back in: Towards a Model of the Developmental State’, The Journal of Development Studies, 31 (3).

2. Andrzej Bolesta (2007). "China As A Developmental State." Montenegrin Journal of Economics. vol. 3, no. 5, p. 105-111, tại: http://www.repec.mnje.com/mje/2007/v03-n05/mje_2007_v03-n05-a16.html.

3. Barbara Ingham, ‘The Meaning of Development: Interactions between “New” and “Old” Ideas’ in World Development,Vol. 21, No. 11 (1993).

4. Bob Jessop, The Developmental State in an Era of Finance-Dominated Accumulation, trong Yin-Wah Chu-eds (2016), tại http://socweb.hkbu.edu.hk/devState2013/abstracts/JESSOP_Bob.pdf

5. Chalmers Johnson, (1982), MITI and the Japanese Miracle; The Growth of Industrial Policy 1925-1975, Stanford University Press, tạihttp://faculty.arts.ubc.ca/tiberg/MPA_Asia_Apr_2010_readings/Johnson,

%20Chalmers.%201982.%20MITI%20and%20the%20Japanese%20Miracle%20Ch.%201.pdf

6. Chalmers Jonhson (1985), ‘Political institutions and economic performance: The government-business relationship in Japan, South Korea and Taiwan’, in Asian Economic Development: Present and Future, tr. 73-89.

7. Chalmers Johnson, (1999), “The Developmental State: Odyssey of A Concept”, in: Woo-Cumings, M. (ed.) (1999), The Developmental State, Cornell University Press.

8. Chang, Ha.-Joon. (1999). ‘The Economic Theory of the Developmental State’, trong trong Woo-Cumings, Meredith, ed. (1999) The Developmental. State. Cornell, CA; Cornell University Press.

9. David Levi-Faur (2012), “States Making & Market Building for the Global South: The Developmental State vs. The Regulatory State?” Jerusalem Papers in Regulation & Governance, Working Paper No. 44, tại: http://regulation.huji.ac.il/papers/jp44.pdf

10. Evans, Peter B. (1995). Embedded Autonomy: States and Industrial Transformation. Princeton. Princeton University Press.

11. Eul-Soo Pang (2000), ‘The Financial Crisis of 1997-1998 and the End of the Asian Developmental State’, Contemporary South East Asia, 22 (3), tr. 570-593.

12. MU Juul Loriaux (1999), ‘The French Developmental State as Myth and Moral Ambition’, trong Woo-Cumings, Meredith, ed. (1999) The Developmental. State. Cornell, CA; Cornell University Press.

13. Linda Weiss, “Transformative Capacity and Developmental States: lessons for South Africa” HRSC Seminar Series, Pretoria, South Africa, 18 February 2010.

14. Leenders (2007), ‘The East Asian Miracle and the Developmental State, Is it possible to replicate the developmental model, and is it desirable to replicate the developmental state model? Politics of Development.’ Brendan Da Costa/

15. Ludwig von Mises (1999), Interventionism: An Economic Analysis, The Foundation for EconomicEducation, Inc. Irvington-011-Hudson, New York 10533, tại: http://www.hacer.org/pdf/Mises09.pdf

16. John Williamson, A Short History of the Washington Consensus, Paper commissioned by Fundación CIDOB for a conference “From the Washington Consensus towards a new Global Governance,” Barcelona, September 24–25, 2004, tại https://piie.com/publications/papers/williamson0904-2.pdf.

17. Khabele Matlosa (2005), ‘The State, Democracy and Development in Southern Africa’, Paper prepared for the 11th General Assembly of CODESRIA on “Rethinking African Development: Beyond Impasse, towards alternatives”, Maputo, Mozambique.

18. H. Schmiz (2005), State Capacity and Donor Proliferation. Sussex: Institute of Development Studies.

19. Thandika Mkandawire, “Thinking About Developmental States in Africa,” Cambridge Journal of Economics (2001).

20. Omano Edigheji (2005), ‘A Democratic Developmental State in Africa: A Conceptual Paper.’ Johannesburg: Centre for Policy Studies, 2005, tại http://www.rrojasdatabank.info/devstate/edigheji.pdf

21. Omano Edigheji (2010). ‘Constructing a democratic developmental state in South Africa: potentials and challenges’, trong cuốn “Constructing a democratic development state in South Africa: Potentials and challenges” (Chủ biên: Omano Edigheji)

22. UNDP (2012), Democratization in a Developmental State: The Case of Ethiopia - Issues, Challenges, and Prospects, tại http://www.et.undp.org/content/ethiopia/en/home/library/democratic_

governance/developmentbrief_democratisationinadevelopmentalstate_democraticgovernance.html

23. UN ECA and AU, Economic Report on Africa (2011): Governing Development in Africa—the Role of the State in Economic Transformation. Addis Ababa: UN ECA tại http://www.uneca.org/sites/default/files/PublicationFiles/era2011_eng-fin.pdf

24. Perry Anderson (2010), “Two Revolutions: Rough Notes”, New Left Review, Vol. 61 (2010), tr. 59-96.

25. Vincent Wei-cheng Wang (2002), "Globalization and the Developmental State: Reflections on the Asian Financial Crisis", University of Richmond, UR Scholarship Repository, tại: https://pdfs.semanticscholar.org/4562/b969740ce505ac8a715f19ad563b752a1140.pdf

26. Woo-Cumings, Meredith, ed. (1999) The Developmental. State. Cornell, CA; Cornell University Press, tại http://www.bresserpereira.org.br/Terceiros/Cursos/09.Woo-Cumings,Meredith_

The_developmental_State_Odyssey_of_a_concept.pdf.


[1]Bob Jessop, The Developmental State in an Era of Finance-Dominated Accumulation, in: Yin-Wah Chu-eds (2016), p. 28, tại http://socweb.hkbu.edu.hk/devState2013/abstracts/JESSOP_Bob.pdf.

[2] Ministry of International Trade and Industry (Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế của Nhật Bản).

[3] Johnson, Ch. (1982), MITI and the Japanese Miracle; The Growth of Industrial Policy 1925-1975, Stanford University Press, tạihttp://faculty.arts.ubc.ca/tiberg/MPA_Asia_Apr_2010_readings/Johnson,%20Chalmers.

%201982.%20MITI%20and%20the%20Japanese%20Miracle%20Ch.%201.pdf.

[4]Johnson, Ch. (1982), MITI and the Japanese Miracle: The Growth of Industrial Policy, 1925-1975, tlđd.

[5] Johnson, Ch. (1999), “The Developmental State: Odyssey of A Concept”, in: Woo-Cumings, M. (ed.) (1999), The Developmental State, Cornell University Press, p.32, http://www.bresserpereira.org.br/Terceiros/Cursos/09.Woo-Cumings,Meredith_The_developmental_State_Odyssey_of_a_concept.pdf.

[6] Johnson, Ch. (1999), “The Developmental State: Odyssey of A Concept”, tldd, tr.2.

[7] UNDP Ethiopia (2012), Democratization in a Developmental State: The Case of Ethiopia - Issues, Challenges, and Prospects, p. 7, tại http://www.et.undp.org/content/ethiopia/en/home/library/democratic_governance/developmentbrief

_democratisationinadevelopmentalstate_democraticgovernance.html.

[8] UN ECA and AU, Economic Report on Africa (2011): Governing Development in Africa—the Role of the State in Economic Transformation. Addis Ababa: UN ECA, tại http://www.uneca.org/sites/default/files/PublicationFiles/era2011_eng-fin.pdf

[9] Barbara Ingham, ‘The Meaning of Development: Interactions between “New” and “Old” Ideas’ in World Development, Vol. 21, No. 11 (1993), tp.54-56

[10] H. Schmiz (2005), State Capacity and Donor Proliferation. Sussex: Institute of Development Studies, p. 6; Dẫn theo UNDP Ethiopia, tr. 6.

[11] Meles Zenawi, “African Development: Dead Ends New Beginnings (Preliminary Draft)”. Dẫn theo UNDP Ethiopia, tr. 6.

[12]Vincent Wei-cheng Wang (2002), "Globalization and the Developmental State: Reflections on the Asian Financial Crisis", University of Richmond, UR Scholarship Repository, tại: https://pdfs.semanticscholar.org/4562/b969740ce505ac8a715f19ad563b752a1140.pdf.

[13] Omano Edigheji (2005), ‘A Democratic Developmental State in Africa: A Conceptual Paper.’ Johannesburg: Centre for Policy Studies, 2005, p.1, tại http://www.rrojasdatabank.info/devstate/edigheji.pdf.

[14] Ví dụ, xem Thandika Mkandawire, “Thinking About Developmental States in Africa,” Cambridge Journal of Economics (2001); Omano Edigheji, “A Democratic Developmental State in Africa? A Concept Paper,” Research Report No.105. Johannesburg: Center for Policy Studies, 2005.

[15] UNDP Ethiopia, tlđd, tr. 7.

[16] Linda Weiss, “Transformative Capacity and Developmental States: lessons for South Africa” HRSC Seminar Series, Pretoria, South Africa, 18 February 2010. Dẫn theo UNDP Ethiopia, tlđd, tr.7.

[17]Chalmers Jonhson (1985), ‘Political institutions and economic performance: The government-business relationship in Japan, South Korea and Taiwan’, in Asian Economic Development: Present and Future, p. 73-89.

[18] Adrian Leftwich, ‘Bringing Politics Back in: Towards a Model of the Developmental State’, The Journal of Development Studies, 31 (3), p. 400-427.

[19] UNDP Ethiopia, tlđd, tr. 7.

[20] UN ECA and AU, Economic Report on Africa (2011), tlđd.

[21] Đồng thuận Washington (Washington Consensus) là thuật ngữ mô tả chương trình cải cách kinh tế 10 điểm do Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Bộ Tài chính Mỹ nêu ra đầu thập niên 1990 cho những quốc gia đang trải qua khủng hoảng kinh tế, như những điều kiện để được hỗ trợ thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng. 10 điểm (hay 10 chính sách cải cách kinh tế) tập trung vào việc tự do hoá nền kinh tế, thể hiện rõ nhất qua các chính sách như: Tự do hóa thương mại; Mở cửa cho đầu tư trực tiếp nước ngoài; Tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước; Loại bỏ các quy chế ngăn cản xâm nhập thị trường và ngăn cản cạnh tranh; Củng cố khung pháp lý đảm bảo quyền sở hữu… Thuật ngữ Đồng thuận Washington sau đó được dùng để chỉ tất cả những chính sách kinh tế theo định hướng thị trường tự do giống như kiểu của Mỹ và các nước phương Tây. Xem John Williamson, A Short History of the Washington Consensus, Paper commissioned by Fundación CIDOB for a conference “From the Washington Consensus towards a new Global Governance,” Barcelona, September 24–25, 2004, tại https://piie.com/publications/papers/williamson0904-2.pdf.

[22] UNDP Ethiopia, tlđd, tr. 8.

[23] Andrzej Bolesta (2007). "China As A Developmental State." Montenegrin Journal of Economics. vol. 3, no. 5, p. 105-111, tại: http://www.repec.mnje.com/mje/2007/v03-n05/mje_2007_v03-n05-a16.html.

[24] Andrzej Bolesta, tlđd, p. 105-111.

[25]Ludwig von Mises (1999), Interventionism: An Economic Analysis, The Foundation for EconomicEducation,

Inc. Irvington-011-Hudson, New York 10533, tại: http://www.hacer.org/pdf/Mises09.pdf.

[26] MU Juul Loriaux (1999), ‘The French Developmental State as Myth and Moral Ambition’, trong Woo-Cumings, sđd, tr. 24.

[27] Chang, Ha.-Joon. (1999). ‘The Economic Theory of the Developmental State’, trong Meredith Woo-Cumings, sđd, tr.45.

[28] Andrzej Bolesta, sđd, tr. 105-111.

[29] Johnson, Ch. (1999), sđd, tr.23.

[30] Andrzej Bolesta, sđd.

[31] Andrzej Bolesta, sđd.

[32] Xem Andrzej Bolesta, sđd.

[33] UNDP Ethiopia, sđd, tr. 8.

[34] UNDP Ethiopia, sđd, tr. 8.

[35] UNDP Ethiopia, sđd, tr. 8.

[36] UNDP Ethiopia, sđd, tr. 8.

[37] UNDP Ethiopia, sđd, tr. 8.

[38] Johnson Ch. (1982), sđd,

[39] Leenders (2007), ‘The East Asian Miracle and the Developmental State, Is it possible to replicate the developmental model, and is it desirable to replicate the developmental state model? Politics of Development.’ Brendan Da Costa, tr.6-7.

[40]Dẫn theo Leenders, tr.6-7.

[41] UNDP Ethiopia, sđd, tr. 11.

[42] Andrzej Bolesta, sđd.

[43] Andrzej Bolesta, sđd.

[44] Johnson, Ch. (1999), sđd. tr. 52.

[45] Johnson, Ch. (1999), sđd. tr. 52.

[46] Đại học Johannesburg (Nam Phi),

[47] Omano Edigheji (2005), ‘A Democratic Developmental State in Africa: A Conceptual Paper.’ Johannesburg: Centre for Policy Studies, p.5.

[48] Omano Edigheji (2010). ‘Constructing a democratic developmental state in South Africa: potentials and challenges’, trong cuốn “Constructing a democratic development state in South Africa: Potentials and challenges” (Chủ biên: Omano Edigheji), p. 9.

[49] Omano Edigheji (2005), sđd, tr. 5.

[50] Giáo sư Đại học California tại Los Angeles (UCLA - Hoa Kỳ)

[51] Perry Anderson (2010), “Two Revolutions: Rough Notes”, New Left Review, Vol. 61 (2010), p. 59-96.

[52] UNDP Ethiopia, sđd, tr. 13.

[53] UNDP Ethiopia, sđd, tr. 13.

[54] Khabele Matlosa (2005), ‘The State, Democracy and Development in Southern Africa’, Paper prepared for the 11th General Assembly of CODESRIA on “Rethinking African Development: Beyond Impasse, towards alternatives”, Maputo, Mozambique, p. 4.

[55] Edigheji (2010) sđd, tr. 22.

[56] Evans, Peter B. (1995). Embedded Autonomy: States and Industrial Transformation. Princeton. Princeton University Press.

[57] Johnson, Ch. (1999), sđd, tr. 32.

[58] Andrian Leftwich (1995): Bringing politics back in: Towards a model of the developmental state, tlđd, tr. 31.

[59]Chang (1999), sđd, tr.192.

[60] UN ECA and AU, Economic Report on Africa (2011), sđd, tr. 95.

[61] UNDP Ethiopia, sđd, tr. 8.

[62]Eul-Soo Pang (2000), ‘The Financial Crisis of 1997-1998 and the End of the Asian Developmental State’, Contemporary South East Asia, 22 (3), tr. 570-593.

[63] Giáo sư Đại học California, Berkeley (Hoa Kỳ)

[64] Peter Evans, sđd, tr. 6

[65] David Levi-Faur (2012), “States Making & Market Building for the Global South: The Developmental State vs. The Regulatory State?” Jerusalem Papers in Regulation & Governance, Working Paper No. 44, tại: http://regulation.huji.ac.il/papers/jp44.pdf.

Theo nclp.gov.vn











982983
Đang online: 82